Chào mừng quý vị đến với VÕ THÀNH QUANG (THCS HOAQUANG).
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
sinh thai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tài Năng (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:13' 06-03-2010
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tài Năng (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:13' 06-03-2010
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
1
Bài thuyết trình Sinh thái thủy vực
Trình bài:NHÓM 4
SAN HÔ
Chủ đề:
TRƯỜNG ĐAI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
KHOA THỦY SẢN
LỚP DH08NY
GVHD: TRỊNH TRƯỜNG GIANG
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
2
Thành viên:
Nguyễn Đăng Hùng
Huỳnh Xuân Hiếu
Nguyễn Xuân Hoàng
Thế Thị Xuân Hiệp
Nguyễn Chí Hiếu
Trường ĐH Nông Lâm Tp HCM DH08NY – NHÓM 4
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
3
NỘI DUNG CHÍNH
Phát sinh loài
Cấu tạo
Sinh sản
3.1. Hữu tính
3.2. Vô tính
4. Rạn san hô
5. Ảnh hưởng của môi trường
6. Ảnh san hô
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
4
1. Phát sinh loài:
San hô nấm ở Papua New Guinea
San hô nằm trong lớp Anthozoa và được chia thành hai phân lớp, tùy theo số xúc tu (tua cảm) hoặc những đường đối xứng, và một loạt các bộ tương ứng với kiểu xương ngoài, loại tế bào châm và phân tích di truyền ti thể
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
5
Phân lớp san hô với 8 xúc tu được gọi là san hô tám ngăn (Octocorallia) hay san hô mềm (Alcyonaria) và bao gồm các bộ san hô mềm (Alcyonacea), san hô sừng (Gorgonacea) và san hô lông chim (Pennatulacea).
Những loài có nhiều số xúc tu lớn hơn 8 và là bội của 6 được gọi là san hô sáu ngăn (Hexacorallia) hay san hô tổ ong (Zoantharia).
Nhóm này bao gồm các loài san hô đá (san hô tạo rạn) (Scleractinia), san hô tổ ong (Zoanthidea) và hải quỳ.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
6
Bãi san hô lớn nhất thế giới
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
7
Bãi san hô ngầm
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
8
2. Cấu tạo:
Tuy một đầu san hô trông như một cơ thể sống, nhưng nó thực ra là đầu của nhiều cá thể giống nhau hoàn toàn về di truyền, đó là các polip. Các polip là các sinh vật đa bào với nguồn thức ăn là nhiều loại sinh vật nhỏ hơn, từ sinh vật phù du tới các loài cá nhỏ.
Cấu tạo 1 polip
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
9
Đường kính: vài milimet.
Cấu tạo bởi một lớp biểu mô bên ngoài và một lớp mô bên trong giống như sứa được gọi là ngoại chất
Hình dạng đối xứng trục với các xúc tu mọc quanh một cái miệng ở giữa - cửa duy nhất tới xoang vị (hay dạ dày), cả thức ăn và bã thải đều đi qua cái miệng này.
MỘT POLIP CÓ:
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
10
Dạ dày đóng kín tại đáy polip.
Polip mọc bằng cách phát triển khoang hình cốc (calices) theo chiều dọc, đôi khi chia thành vách ngăn để tạo một đĩa nền mới cao hơn.
Qua nhiều thế hệ, kiểu phát triển này tạo nên các cấu trúc san hô lớn chứa canxi, và lâu dài tạo thành các rạn san hô.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
11
Các polip kết nối với nhau qua một hệ thống phức tạp gồm các kênh hô hấp tiêu hóa cho phép chúng chia sẻ đáng kể các chất dinh dưỡng và các sinh vật cộng sinh.
Ngoài việc dùng sinh vật phù du làm thức ăn, nhiều loài san hô, cũng như các nhóm Thích ti (Cnidaria) khác như hải quỳ (ví dụ chi Aiptasia), hình thành một quan hệ cộng sinh với nhóm tảo vàng đơn bào thuộc chi Symbiodinium .
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
12
Cận cảnh các polip Montastrea cavernosa. Có thể thấy rõ các xúc tu.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
13
3. SINH SẢN:
3.1. Sinh sản hữu tính: (chủ yếu)
Khoảng 75% san hô phụ thuộc tảo "phát tán con giống" bằng cách phóng các giao tử (trứng và tinh trùng) vào trong nước để phát tán các quần thể san hô ra xa. Các giao tử kết hợp với nhau khi thụ tinh để hình thành một ấu trùng rất nhỏ gọi là planula, thường có mầu hồng và hình ovan.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
14
Hầu hết các loài san hô, mà không phải san hô đá, đều không phát tán giao tử. Chúng phóng tinh trùng nhưng giữ trứng, cho phép phát triển các ấu trùng planula lớn hơn để sau này khi thả ra sẽ đủ sẵn sàng để lắng xuống
Ấu trùng phát triển thành polip san hô và cuối cùng trở thành đầu san hô bằng mọc chồi vô tính và phát triển để tạo ra các polip mới.
San hô phóng tinh trùng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
15
Các khoang hình cốc (đĩa nền) của Orbicella annularis cho thấy 2 phương pháp nhân giống: mọc chồi (khoang nhỏ ở giữa) và phân chia (khoang đôi lớn).
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
16
San hô phải phụ thuộc vào các dấu hiệu môi trường để xác định thời gian chính xác để giải phóng các giao tử vào trong nước.
Có hai phương pháp mà san hô dùng để sinh sản hữu tính, chúng khác nhau ở chỗ giao tử cái có được giải phóng hay không:
1. San hô gieo rắc
2. San hô ấp trứng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
17
3.2. Sinh sản vô tính:
Tại các đầu san hô, các polip giống hệt nhau về di truyền sinh sản vô tính để phát triển quần thể. Điều này được thực hiện bằng nảy mầm hay mọc chồi (khi một polip mới mọc ra từ một polip trưởng thành), hoặc phân chia (thành 2 polip lớn bằng polip ban đầu.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
18
Quá trình sinh sản vô tính:
Mọc chồi
Phân chia theo chiều dọc
Mọc chồi nội tua cảm
Mọc chồi ngoại tua cảm
Phân chia theo chiều ngang
Phân đôi
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
19
Cả quần thể san hô có thể sinh sản vô tính qua sự phân mảnh hay thoát ra ngoài, khi một mảnh vỡ từ một đầu san hô được sóng đem đi nơi khác có thể tiếp tục phát triển tại địa điểm mới.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
20
4. RẠN SAN HÔ:
Vị trí của các rạn san hô
Các loài san hô phụ thuộc vào tảo vàng đơn bào và tạo rạn (san hô đá) thường được tìm thấy tại các rạn san hô - các cấu trúc lớn bằng cacbonat canxi tại các vùng biển nhiệt đới nông.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
21
Các rạn san hô được tạo dựng từ các bộ xương san hô và được gắn với nhau bởi các lớp cacbonat canxi do tảo coralline (họ Corallinaceae) tiết ra. Rạn san hô là các hệ sinh thái biển cực kỳ đa dạng, là nơi sinh sống của hơn 4.000 loài cá, vô số loài thích ti (Cnidaria), thân mềm, giáp xác và nhiều động vật khác
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
22
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
23
Hóa thạch của loài san hô Heliophyllum halli từ kỷ Devon, tìm thấy tại Canada
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
24
5. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Một rạn san hô có thể là một ốc đảo cho sinh vật biển.
San hô rất nhạy cảm với các thay đổi trong môi trường tự nhiên.
Một rạn san hô có thể dễ dàng bị ngập trong tảo nếu trong nước có quá nhiều dinh dưỡng.
San hô cũng sẽ chết nếu nhiệt độ nước thay đổi vượt quá 1-2 độ ra ngoài khoảng bình thường, hoặc nếu độ mặn trong nước giảm.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
25
Một mặt cắt san hô, được nhuộm màu để xác định tốc độ tăng trưởng
San hô rất nhạy cảm đối với sự thay đổi độ pH của nước.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
26
Một sự kết hợp của các thay đổi về nhiệt độ, ô nhiễm, sự lạm dụng bởi những người lặn biển và các nhà sản xuất đồ kim hoàn đã dẫn tới sự hủy diệt của nhiều rạn san hô trên thế giới.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
27
6. ẢNH CÁC LOẠI SAN HÔ
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
28
San hô não phóng trứng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
29
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
30
Hệ sinh thái san hô đang bị đoe dọa, chúng ta hãy cố gắng để giữ lại những bức tranh thiên nhiên ban tặng.
Quá trình thực hiện còn ít nhiều sai sót, mong các bạn thông cảm và góp ý để chúng ta cùng học tốt hơn.
Thank you for your listening.
THE END
1
Bài thuyết trình Sinh thái thủy vực
Trình bài:NHÓM 4
SAN HÔ
Chủ đề:
TRƯỜNG ĐAI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
KHOA THỦY SẢN
LỚP DH08NY
GVHD: TRỊNH TRƯỜNG GIANG
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
2
Thành viên:
Nguyễn Đăng Hùng
Huỳnh Xuân Hiếu
Nguyễn Xuân Hoàng
Thế Thị Xuân Hiệp
Nguyễn Chí Hiếu
Trường ĐH Nông Lâm Tp HCM DH08NY – NHÓM 4
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
3
NỘI DUNG CHÍNH
Phát sinh loài
Cấu tạo
Sinh sản
3.1. Hữu tính
3.2. Vô tính
4. Rạn san hô
5. Ảnh hưởng của môi trường
6. Ảnh san hô
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
4
1. Phát sinh loài:
San hô nấm ở Papua New Guinea
San hô nằm trong lớp Anthozoa và được chia thành hai phân lớp, tùy theo số xúc tu (tua cảm) hoặc những đường đối xứng, và một loạt các bộ tương ứng với kiểu xương ngoài, loại tế bào châm và phân tích di truyền ti thể
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
5
Phân lớp san hô với 8 xúc tu được gọi là san hô tám ngăn (Octocorallia) hay san hô mềm (Alcyonaria) và bao gồm các bộ san hô mềm (Alcyonacea), san hô sừng (Gorgonacea) và san hô lông chim (Pennatulacea).
Những loài có nhiều số xúc tu lớn hơn 8 và là bội của 6 được gọi là san hô sáu ngăn (Hexacorallia) hay san hô tổ ong (Zoantharia).
Nhóm này bao gồm các loài san hô đá (san hô tạo rạn) (Scleractinia), san hô tổ ong (Zoanthidea) và hải quỳ.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
6
Bãi san hô lớn nhất thế giới
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
7
Bãi san hô ngầm
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
8
2. Cấu tạo:
Tuy một đầu san hô trông như một cơ thể sống, nhưng nó thực ra là đầu của nhiều cá thể giống nhau hoàn toàn về di truyền, đó là các polip. Các polip là các sinh vật đa bào với nguồn thức ăn là nhiều loại sinh vật nhỏ hơn, từ sinh vật phù du tới các loài cá nhỏ.
Cấu tạo 1 polip
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
9
Đường kính: vài milimet.
Cấu tạo bởi một lớp biểu mô bên ngoài và một lớp mô bên trong giống như sứa được gọi là ngoại chất
Hình dạng đối xứng trục với các xúc tu mọc quanh một cái miệng ở giữa - cửa duy nhất tới xoang vị (hay dạ dày), cả thức ăn và bã thải đều đi qua cái miệng này.
MỘT POLIP CÓ:
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
10
Dạ dày đóng kín tại đáy polip.
Polip mọc bằng cách phát triển khoang hình cốc (calices) theo chiều dọc, đôi khi chia thành vách ngăn để tạo một đĩa nền mới cao hơn.
Qua nhiều thế hệ, kiểu phát triển này tạo nên các cấu trúc san hô lớn chứa canxi, và lâu dài tạo thành các rạn san hô.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
11
Các polip kết nối với nhau qua một hệ thống phức tạp gồm các kênh hô hấp tiêu hóa cho phép chúng chia sẻ đáng kể các chất dinh dưỡng và các sinh vật cộng sinh.
Ngoài việc dùng sinh vật phù du làm thức ăn, nhiều loài san hô, cũng như các nhóm Thích ti (Cnidaria) khác như hải quỳ (ví dụ chi Aiptasia), hình thành một quan hệ cộng sinh với nhóm tảo vàng đơn bào thuộc chi Symbiodinium .
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
12
Cận cảnh các polip Montastrea cavernosa. Có thể thấy rõ các xúc tu.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
13
3. SINH SẢN:
3.1. Sinh sản hữu tính: (chủ yếu)
Khoảng 75% san hô phụ thuộc tảo "phát tán con giống" bằng cách phóng các giao tử (trứng và tinh trùng) vào trong nước để phát tán các quần thể san hô ra xa. Các giao tử kết hợp với nhau khi thụ tinh để hình thành một ấu trùng rất nhỏ gọi là planula, thường có mầu hồng và hình ovan.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
14
Hầu hết các loài san hô, mà không phải san hô đá, đều không phát tán giao tử. Chúng phóng tinh trùng nhưng giữ trứng, cho phép phát triển các ấu trùng planula lớn hơn để sau này khi thả ra sẽ đủ sẵn sàng để lắng xuống
Ấu trùng phát triển thành polip san hô và cuối cùng trở thành đầu san hô bằng mọc chồi vô tính và phát triển để tạo ra các polip mới.
San hô phóng tinh trùng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
15
Các khoang hình cốc (đĩa nền) của Orbicella annularis cho thấy 2 phương pháp nhân giống: mọc chồi (khoang nhỏ ở giữa) và phân chia (khoang đôi lớn).
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
16
San hô phải phụ thuộc vào các dấu hiệu môi trường để xác định thời gian chính xác để giải phóng các giao tử vào trong nước.
Có hai phương pháp mà san hô dùng để sinh sản hữu tính, chúng khác nhau ở chỗ giao tử cái có được giải phóng hay không:
1. San hô gieo rắc
2. San hô ấp trứng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
17
3.2. Sinh sản vô tính:
Tại các đầu san hô, các polip giống hệt nhau về di truyền sinh sản vô tính để phát triển quần thể. Điều này được thực hiện bằng nảy mầm hay mọc chồi (khi một polip mới mọc ra từ một polip trưởng thành), hoặc phân chia (thành 2 polip lớn bằng polip ban đầu.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
18
Quá trình sinh sản vô tính:
Mọc chồi
Phân chia theo chiều dọc
Mọc chồi nội tua cảm
Mọc chồi ngoại tua cảm
Phân chia theo chiều ngang
Phân đôi
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
19
Cả quần thể san hô có thể sinh sản vô tính qua sự phân mảnh hay thoát ra ngoài, khi một mảnh vỡ từ một đầu san hô được sóng đem đi nơi khác có thể tiếp tục phát triển tại địa điểm mới.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
20
4. RẠN SAN HÔ:
Vị trí của các rạn san hô
Các loài san hô phụ thuộc vào tảo vàng đơn bào và tạo rạn (san hô đá) thường được tìm thấy tại các rạn san hô - các cấu trúc lớn bằng cacbonat canxi tại các vùng biển nhiệt đới nông.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
21
Các rạn san hô được tạo dựng từ các bộ xương san hô và được gắn với nhau bởi các lớp cacbonat canxi do tảo coralline (họ Corallinaceae) tiết ra. Rạn san hô là các hệ sinh thái biển cực kỳ đa dạng, là nơi sinh sống của hơn 4.000 loài cá, vô số loài thích ti (Cnidaria), thân mềm, giáp xác và nhiều động vật khác
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
22
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
23
Hóa thạch của loài san hô Heliophyllum halli từ kỷ Devon, tìm thấy tại Canada
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
24
5. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Một rạn san hô có thể là một ốc đảo cho sinh vật biển.
San hô rất nhạy cảm với các thay đổi trong môi trường tự nhiên.
Một rạn san hô có thể dễ dàng bị ngập trong tảo nếu trong nước có quá nhiều dinh dưỡng.
San hô cũng sẽ chết nếu nhiệt độ nước thay đổi vượt quá 1-2 độ ra ngoài khoảng bình thường, hoặc nếu độ mặn trong nước giảm.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
25
Một mặt cắt san hô, được nhuộm màu để xác định tốc độ tăng trưởng
San hô rất nhạy cảm đối với sự thay đổi độ pH của nước.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
26
Một sự kết hợp của các thay đổi về nhiệt độ, ô nhiễm, sự lạm dụng bởi những người lặn biển và các nhà sản xuất đồ kim hoàn đã dẫn tới sự hủy diệt của nhiều rạn san hô trên thế giới.
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
27
6. ẢNH CÁC LOẠI SAN HÔ
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
28
San hô não phóng trứng
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
29
Bài thuyết trình Sinh Thái Thủy Vực nhóm 5
30
Hệ sinh thái san hô đang bị đoe dọa, chúng ta hãy cố gắng để giữ lại những bức tranh thiên nhiên ban tặng.
Quá trình thực hiện còn ít nhiều sai sót, mong các bạn thông cảm và góp ý để chúng ta cùng học tốt hơn.
Thank you for your listening.
THE END
 






Các ý kiến mới nhất